TLH: Trẻ chậm biết nói

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ NÓI Ở TRẺ:

a/ Từ khi sinh ra cho đến 2 tháng tuổi: Biết mấp máy môi rồi đến bập bẹ. Đây là những âm thanh chủ ý đầu tiên từ trẻ ngoài tiếng khóc chào đời. Tiếp đến những âm thanh “ồ, à,..”. Có thể trẻ chưa có thể diễn đạt bằng lời, nhưng sự gia tăng kiểm soát ở các cơ thanh âm và một hệ thống gọi là phản hồi thính giác cho phép trẻ trở nên quen thuộc với âm thanh ngôn ngữ.

b/ Đến 3 tháng: Trẻ có thể phân biệt giữa giọng mẹ và giọng những người phụ nữ khác. Sang tháng thứ 4 trẻ có thể hiểu và phản ứng theo nhịp nói chuyện của người chăm sóc. Trong giai đoạn này, trẻ phản ứng lại với giọng nói bằng cách yên lặng, lắng nghe và quay đầu. Trẻ dễ mở to mắt hoặc tỉnh giấc vì tiếng nói lạ trong phòng yên tĩnh.

c/ Từ 5 đến 8 tháng tuổi: Có thể phát ra được 3 hay nhiều âm thanh hơn trong 1 lần hít thở. Trẻ hưởng ứng khi được gọi tên bằng cách nhìn ngó, lắng nghe, mỉm cười và yên lặng.

Trẻ có thể định hướng nguồn âm không trong tầm mắt. Trẻ cười, ríu rít, mấp máy môi với những người quen, đặc biệt là khi chơi và bắt đầu tìm kiếm âm thanh mới lạ và biết cách gây sự chú ý bằng tiếng nói.

d/ Từ 9 đến 12 tháng tuổi: Bắt chước âm thanh và lắng nghe những từ quen thuộc. Trẻ biết nói “không” và lắc đầu, có thể nói 2 hoặc 3 từ với bố mẹ trong khi những người khác có thể không hiểu.

Trẻ sáng tạo những từ ngữ riêng để gọi tên đồ vật hoặc ai đó, bập bẹ các âm thanh nghe giống như đang nói chuyện với ngữ điệu không giống nhau. Trẻ vẫy tay khi nghe những yêu cầu bằng ngôn ngữ và hưởng ứng những trò chơi tương tác (trò ú tim). Bắt đầu nhận ra vật/hình ảnh qua tên gọi và có thể hiểu được 100 từ.

e/ Từ 14 – 18 tháng: Trẻ trong giai đoạn này biết nói rõ ràng 4 từ trở lên và gọi tên một vài đồ vật nếu có ai đó chỉ trỏ đến chúng. Trẻ có thể sử dụng ít nhất là một từ để diễn đạt ý như măm, ba, mẹ,…

Trẻ cũng tự sáng tác ra những từ ngữ đầy ý nghĩa. Trẻ bập bẹ hoặc nói trong điện thoại đồ chơi và giả vờ như đang trò chuyện và nghe một số yêu cầu đơn giản từ người lớn.

g/ Từ 18 đến 20 tháng tuổi: Trẻ biết lắng nghe những câu chuyện ngắn hoặc âm nhạc và nghe theo các chỉ dẫn bằng lời nói. Phân biệt âm thanh và nhại lại các từ, các âm thanh thường xuyên hơn.

h/ Trẻ 24 tháng tuổi: Biết lắng nghe những câu chuyện ngắn và xác định hành động/nhân vật trong sách và phân biệt người theo tên riêng. Sử dụng những câu đơn giản biết phối hợp giữa các từ với nhau tạo nên câu có cả danh từ, động từ. Ví dụ như ăn cơm, đi bà ngoại,…

Trẻ nhận dạng được các phần cơ thể, quần áo, các đồ vật, các hành động thông thường và bắt đầu biết nghe theo những chỉ dẫn 2 bước đơn giản. Biết nói “không”, điều này báo hiệu sự chuyển biến trong nhận thức về bản thân và mong muốn độc lập của trẻ và vốn từ giao tiếp lúc này lên đến 300 từ.

i/ Sự phát tiển ngôn ngữ ở trẻ 3 tuổi: Trẻ hiểu được đến 50 000 từ và hầu hết những kỹ năng giao tiếp cần thiết cần cho giao tiếp xã hội. Trong giai đoạn này, mỗi tháng trẻ lại tự bổ sung thêm nhiều từ mới. Trẻ 3 tuổi có thể ngân nga một số giai điệu đơn giản và hát. Trẻ cũng biết kể chuyện, mặc dù cấu trúc có thể chưa chính xác. Ngoài ra trẻ có thể đếm nhưng vẫn chưa hiểu rõ khải niệm số lượng.

Trẻ trả lời được các câu hỏi (ai, nơi đâu và thế nào) và cũng thường xuyên đặt những câu hỏi cho người lớn. Trẻ sử dụng câu có từ 3-4 từ trở lên, sử dụng từ để diễn đạt quan sát, ý nghĩa, ý tưởng. Trẻ hiểu những khái niệm về thời gian đơn giản (hôm qua, giờ ăn trưa, tối nay) và nhận biết màu sắc, tên gọi, địa chỉ.

k/ Trẻ 4 tuổi: Sử dụng các câu được nối với nhau (câu nói đã gồm ít nhất 5 từ) và bắt đầu biết tranh luận bằng lời nói. Trẻ 4 tuổi có thể kể lại những trải nghiệm hoặc những sự kiện đơn giản theo trình tự cũng như hát lại những đoạn lời hát, giai điệu ngắn theo trí nhớ và có thể nói rõ ràng.

Trẻ sử dụng những câu đùa, ngôn ngữ ngô nghê và diễn những mẩu kịch ngắn. Khi nói chuyện có thể trả lời các câu hỏi, đưa ra thêm thông tin, lặp lại và chuyển tải ý tưởng và đặt các câu hỏi (vì sao, khi nào, như thế nào và ở đâu. Trẻ hiểu được trình tự của sự kiện, ý nghĩa của các từ nối cấu trúc so sánh.

l/ Trẻ 5 – 6 tuổi: Trẻ 5 tuổi sử dụng lượng lớn ngôn ngữ và vận dụng linh hoạt vào giao tiếp và vận dụng từ ngữ chính xác hơn. Trẻ sử dụng ngữ pháp phức tạp hơn cũng như số nhiều và thì chính xác hơn. Trẻ thể hiện bản thân với tông giọng khác nhau. Trẻ bắt đầu học ngôn ngữ viết để chuẩn bị cho việc đến trường.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trẻ chậm biết nói…

BÁO ĐỘNG VỀ SỰ CHẬM NÓI CỦA TRẺ.

* Mức độ nhẹ: Đến 2 tuổi, số từ mà trẻ nói còn ít, chưa kết hợp câu được, nhưng trẻ hiểu được lời người khác nói. Trong trường hợp này, nếu chú ý dạy cho trẻ nói, đến 3 tuổi trẻ sẽ có ngôn ngữ (hiểu và nói) bình thường của lứa tuổi.
* Trường hợp đáng lo ngại: Đến 3 tuổi, vốn từ của trẻ quá nghèo nàn, trẻ chưa biết cách phối hợp từ để thể hiện nhu cầu và sự hiểu biết của mình là một vấn đề không bình thường. Trong các trường hợp này, cha mẹ cần cho trẻ đến bệnh viện chuyên khoa nhi để kiểm tra trí tuệ (test IQ).

NGUYÊN NHÂN CHẬM PT NGÔN NGỮ NÓI:

1/ Khiếm thính (điếc dẫn tới câm);

2/ Chậm phát triển trí tuệ; Tổn thương não bộ (do chấn thương trước, trong và sau khi sinh), ốm đau, sốt cao co giật, ngã va đập mạnh…;

c/ Tự kỷ; Bị bỏ rơi, ít được giao tiếp, chăm sóc không tốt và là dấu hiệu trong một số trường hợp bệnh lý khác.

Cần loại trừ nguyên nhân, khám sàng lọc để xác định nguyên nhân, từ đó có biện pháp hỗ trợ kịp thời (can thiệp sớm).

LƯU Ý NHỮNG DẤU HIỆU SAU:

  • Không có dấu hiệu tập nói bập bẹ khi từ 12 đến 15 tháng tuổi
  • Không hiểu được những câu yêu cầu đơn giản khi 18 tháng tuổi
  • Không nói khi được 2 tuổi
  • Không nói thành câu khi bước sang 3 tuôỉ
  • Không thể kể lại một câu chuyện đơn giản khi 4 đến 5 tuổi.

 

Hãy đưa trẻ tới các phòng khám tâm lý, các trung tâm tư vấn tâm lý trẻ em, các bệnh viên nhi hay khoa nhi của các bệnh viện lớn… để khám, tư vấn và can thiệp nếu thấy con có những biểu hiện chậm nói.

ĐƯA CON ĐI KHÁM NGAY NẾU THẤY CÓ NHỮNG DẤU HIỆU SAU:

  1. Bé không quay lại khi nghe gọi tên: Não bộ của bé phản ứng không tốt, và đó cũng là biểu hiện đầu tiên của hệ thần kinh kém phát triển.
  2. Bé không sợ người lạ: Không phải do bé dạn người hay quáhòa đồng, mà đó có thể là bé không phân biệt được người lạ hay quen.
  3. Bé lắc đầu mỗi khi phấn khích.
  4. Bé không bắt chước: Đó là biểu hiện cho thấy bé không có khả năng tập trung theo dõi hành động của người lớn và làm theo. Nếu không dạy thì bé không biết để ý học và sẽ không bao giờ biết.
  5. Bé không biết chỉ bằng một ngón trỏ: Khi trẻ chỉ bằng một ngón là bé đã có khả năng tập trung để nhìn vào một hướng.
  6. Bé mê coi quảng cáo: Cứ có quảng cáo là bé ngồi xem say sưa, thậm chí vẫy tay trước mặt bé, bé cũng không chớp mắt. Cha mẹ mua đĩa quảng cáo về cho bé coi, để làm việc.
  7. Hay ăn vạ, kêu khóc khi đòi một cái gì đó: Các bé không có hoặc không biết sử dụng ngôn ngữ hay ăn vạ hơn bé bình thường vì chúng không biết làm sao để thể hiện ý muốn của mình.
  8. Bé ra ngoài là cắm đầu chạy: Chạy nhiều hơn đi là biểu hiện của chứng tăng động, thiếu khả năng tập trung.
  9. Bé khó ăn, khó ngủ, không chịu nhai.
  10. Bé không tập trung làm cái gì đó lâu.

TLH