Giá trị sống – Nền tảng của kỹ năng sống

Giá trị sống – Nền tảng của kỹ năng sống

1. Đặt vấn đề. Liên tục trong thời gian qua trên các mặt báo đăng những “hung tin”, kể về những đứa con nghịch tử, khiến tất cả mọi người không khỏi giật mình.

          Hai thiếu niên mới 14 tuổi ở Thường Tín, Hà Nội, vì muốn có tiền để chơi game đã bày trò bắt cóc đứa em họ mới 5 tuổi của mình, giết chết rồi bỏ bao tải, giấu vào khu nhà vệ sinh công cộng. Một nghịch tử 13 tuổi ở Nam Định thì dùng dây thép xiết cổ cụ già 81 tuổi chỉ để lấy 140 nghìn đồng chơi games. Vào trung tuần tháng 5 năm 2009 ở Hải Dương, hung thủ sinh năm 1991 đã giết cha đẻ của mình rồi chặt ra làm năm khúc, vứt xuống sông để phi tang. Hành động xong xuôi, hắn mở két lấy tiền và bình tĩnh đi chơi games thông đêm suốt sáng. Chỉ vì thèm rượu mà người con gái 30 tuổi ở Lạng Sơn đã đang tâm lấy điếu cày đập chết người mẹ khốn khổ của mình, chỉ vì bà không cho cô ta 2 nghìn đồng uống rượu. Cũng chỉ vì thiếu tiền đánh bạc, tên Thuân 19 tuổi ở Thanh Cao, Thanh Oai, Hà Nội đã đi ăn trộm, nhưng bị phát hiện. Hắn bèn đi lang thang rình người đi chợ sớm để cướp của. Một phụ nữ nghèo đi bán rau sớm đã bị hắn sát hại để cướp 200 nghìn đồng.

          Trẻ em là hung thủ gây tội ác, nhưng chúng cũng là nạn nhân của tình trạng bạo lực. Những cái tít “Cha ruột đánh chết con ngay tại chỗ”, “Trói hai con cho kiến đốt, thắt cổ rồi quẳng xuống ao”, “Mẹ đánh đập con chỉ vì “chuổng cời”, “Bé gái ba tuổi bị đánh đập, cắt chân tay”, “Hai em nhỏ bị bóp cổ tới chết chỉ vì câu chửi”, “thầy giáo đánh trọng thương học sinh vì em biết mà không giơ tay phát biểu”, “Một học sinh lớp 8 bị giáo viên đánh gẫy ngón tay”…có thể thấy nhan nhản trên các mặt báo.

          Những hung tin này nhắc nhở chúng ta rằng, những kẻ hung thủ, phạm pháp nói trên không hẳn thiếu hiểu biết, bởi chúng cũng được đi học, có em còn đang học cấp ba. Chúng cũng không thiếu kỹ năng sống, bởi chúng cũng khéo léo, biết lừa lọc, biết xoá dấu vết phạm tội, biết lợi dụng lòng tin, biết tranh thủ cơ hội… để gây tội ác. Điều chúng thiếu là thiếu những giá trị sống cốt lõi mà mỗi con người cần có, đó là tình yêu thương, lòng nhân ái, sự bình yên, lòng tự trọng, tinh thần đoàn kết, lòng vị tha…

          Từ vài thập kỷ nay, trong giáo dục đạo đức cho tuổi trẻ trên thế giới người ta nói nhiều đến hai khái niệm mới là giáo dục kỹ năng sống (life skills) và giá trị sống (living values). Nó khác nhiều với cách giáo dục xưa bằng lời nói suông, mà bằng hành động cụ thể để trẻ có khả năng hành động tích cực thật sự. Ta đã nghe nhiều về kỹ năng sống. Kỹ năng sống giúp cho trẻ em nói riêng và con người nói chung có khả năng về mặt tâm lý xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu”. Nhưng nếu trẻ xem cái xấu ấy là “tốt” thì sao? Vì thế giáo dục giá trị sống phải đi song hành và là cái nền cho giáo dục kỹ năng sống.

 2. Giá trị sống và mối quan hệ của giá trị sống với kỹ năng sống và những khái niệm tâm lý khác.

2. 1. Khái niệm giá trị sống

          Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng. Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội.

          Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”) là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người.

          Những giá trị sống cơ bản thường được nhắc đến là hòa bình, công bằng xã hội, sự tôn trọng, đoàn kết, sự trung thực, tình bạn, tính vị tha… Chung quy là tất cả những gì mà con người cho là tốt đẹp nhất.

          Không phải ai cũng nhận đúng giá trị của cuộc sống. Có người cho rằng trở thành người giàu có mới là “giá trị đích thực”. Khi ấy, họ sẽ phấn đấu để có tiền bằng mọi giá, kể cả giết người, buôn lậu, trộm cắp. Nhưng rồi cách kiếm tiền ấy đưa người ta đến chỗ phạm tội, làm hại người khác, làm hại cộng đồng. Họ quên rằng “người giàu cũng khóc”.

          Có người lấy danh vọng làm thước đo giá trị. Vậy là họ cố gắng bằng mọi cách để có được những chức vị nào đó. Nhưng khi những chức vị ấy mất, bị tước bỏ, con người trở nên “trắng tay”, vô giá trị.

          Có người coi sự nhàn hạ là giá trị cuộc sống. Họ trốn tránh trách nhiệm, lười lao động, chọn những công việc, nghề nghiệp không vất vả. Cuối cùng, họ chẳng làm được gì cho bản thân và xã hội.

          Có bạn trẻ cho rằng phải hút thuốc lá, phải biết dùng heroin, biết yêu sớm, có quan hệ tình dục với nhiều người, phải cầm đầu băng nhóm nào đó… mới là “người hùng”, mới có giá trị. Vậy là các bạn trẻ ấy đã nhận nhầm giá trị, coi giá trị ảo là giá trị đích thực.

          Giá trị con người của không ít trẻ em và thanh niên đang thay đổi theo chiều hướng mỗi ngày một phù phiếm. Nguyên nhân đầu tiên chính là từ truyền thông, với sự bùng nổ của các game show mà mục đích thương mại, hút quảng cáo và ngập tràn dịch vụ nhắn tin được đặt lên hàng đầu. Hình mẫu để các cô cậu học trò theo đuổi, thần tượng của giới trẻ Việt Nam là những anh, chị “ca sĩ” hát không nên lời, ăn mặc tả tơi, nói cười ngơ ngẩn… là nhân vật của những chương trình truyền hình thực tế như “Việt Nam Idol” chẳng hạn.

          Vì vậy, giáo dục để các bạn trẻ, các em học sinh (kể cả người lớn) nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều cần thiết.

2. 2. Mối quan hệ giữa giá trị sống và những khái niệm khác.

- Giá trị sống với định hướng cuộc sống (orientation of life): Kỹ năng sống ( life skills), hứng thú (interests), nhân cách (personality) và giá trị sống (values) là bốn thành tố tạo nên định hướng cuộc đời của mỗi con người. Giá trị sống là những điều quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta, nó thôi thúc chúng ta làm điều gì đó tốt đẹp. Giá trị sống có thể là tình yêu thương, lòng kính trọng, sự bình yên, sự hợp tác, tình bằng hữu. Hứng thú là những điều chúng ta thích thú khi làm, ví dụ như một người thích đọc sách, thích thể thao, thích ăn ngon, mặc đẹp, thích du lịch, phim ảnh, thích tán gẫu với bạn bè. Nhân cách bao gồm những nét đặc trưng riêng của mỗi con người, bao gồm động cơ hành động, khí chất, thái độ, những thuộc tính thể chất. Kỹ năng sống là những hoạt động chúng ta thực hiện một cách thành thạo, có năng lực, có tài.

          Giá trị sống trả lời câu hỏi “Tại sao” hay “Vì sao” một người nào đó làm điều này hay điều khác. Một người vội vã vượt đèn đỏ để tiết kiệm vài ba chục giây, nhưng anh ta quên rằng điều đó có thể nguy hiểm đến tính mạng của bản thân hay của người khác, như vậy trong hành động này, người đó đánh giá cao giá trị “thời gian” mà bỏ qua giá trị “mạng sống”.

          Nhờ các bài thi, bài kiểm tra, các kỳ sát hạch, các trắc nghiệm tâm lý, trắc nghiệm trí tuệ, các trắc nghiệm kỹ năng giúp ta khám phá ra năng lực, thế mạnh của con người. Nhưng chính điều bạn yêu thích, muốn làm nói lên giá trị sống của bạn.

- Giá trị sống và thái độ (attitude)

          Kỹ năng sống, tài năng, năng lực, trí tuệ chi phối thái độ của bạn, nhưng giá trị sống, hứng thú và nhân cách của bạn quyết định thái độ của bạn. Giá trị sống của bạn là khía cạnh quan trọng nhất đối với định hướng nghề nghiệp của bạn.

- Giá trị sống và sự thoả mãn (satisfaction)

          Bạn chỉ đạt được sự thoả mãn thật sự trong công việc, trong cuộc sống, trong các mối quan hệ, nếu: kỹ năng sống của bạn ngày càng trở nên tinh tế, điêu luyện hơn, hứng thú của bạn được thoả mãn, nhân cách của bạn được tôn trọng, giá trị sống của bạn được bảo toàn.

          Chỉ cần thiếu 1 trong 4 yếu tố nói trên, bạn khó có một sự hài lòng tuyệt đối.

2. 3. Khám phá giá trị sống của con người như thế nào?

      Chưa có một trắc nghiệm, thang đo hay một công cụ nào có thể đo lường giá trị sống của một con người. Nhưng để biết đâu là giá trị sống đích thực của bạn, chỉ cần bạn liên tục hỏi mình câu hỏi “Vì sao”. Bạn sẽ đạt đến một điểm mà ở đó bạn không muốn hỏi thêm nữa, điểm dừng đó là giá trị sống của bạn.

          Ví dụ: “Vì sao bạn làm luận văn thạc sĩ?”, “Vì tôi muốn có bằng cấp”. “Vì sao bạn muốn có bằng cấp?”. “Vì tôi muốn thành công hơn trong công việc”. “Vì sao bạn muốn thành công hơn trong công việc?”. “Vì tôi muốn đạt tới đỉnh cao”. “Vì sao bạn muốn đạt tới đỉnh cao?”. “Vì tôi muốn có quyền thế”. “Vì sao bạn muốn có quyền thế?”. “Vì có quyền thế tôi sẽ điều khiển được mọi người”. “Vì sao bạn muốn điều khiển mọi người?”. “Vì tôi muốn điều khiển mọi người, thế thôi”.

          Đến đây bạn không muốn hỏi và trả lời nữa, thì đó chính là giá trị sống của bạn. Trong trường hợp nói trên, giá trị sống của bạn là “Được điều khiển mọi người”.

          Tương tự như vậy với câu hỏi về một người muốn có học vị cao, bạn có thể khám phá ra giá trị sống của người đó có thể là tri thức, tiền bạc, địa vị xã hội cao, mức sống (standard of living), tham vọng (ambition), thành công, sự trưởng thành, lòng tự hào, sự kiêu hãnh hay đơn giản là sự sĩ diện…

3. Giá trị sống trong tư tưởng giáo dục xưa và nay.

          Tuy hai khái niệm kỹ năng sống và giá trị sống mới được nhắc đến vài chục năm gần đây, nhưng không có nghĩa là trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử giáo dục nói riêng không nhắc đến giáo dục giá trị sống. Thật ra, từ xưa tới nay, loài người luôn quan tâm, đề cao giáo dục giá trị sống, nhưng được đề cập tới nhiều góc độ khác nhau.

          Trong bài viết này, tôi chỉ điểm qua quan điểm giáo dục giá trị sống trong mối quan hệ của nó với tư tưởng “nhân, nghĩa” của Khổng Tử, khái niệm “cái tâm” của Phật Giáo, mối quan hệ giữa khái niệm Đức và Tài (mà thực chất là giữa kỹ năng sống và giá trị sống) của Hồ Chí Minh. Cuối cùng là sự tương đồng giữa giáo dục giá trị sống với giáo dục động cơ, mục đích, hứng thú hành động trong tâm lý học hiện đại.

3. 1. Chữ Đức trong tư tưởng Nho Giáo.

          Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử (551 – 479 TCN) là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất.

          Quan niệm về Đức là cơ sở quan trọng tạo nên tư tưởng đức trị của Khổng Tử. Quan niệm về “đức” của Khổng Tử trong “Luận ngữ” rất sâu sắc và phong phú. Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm. Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc. Lòng tin mãnh liệt vào thiện đức của con người chính là cơ sở của đường lối đức trị Khổng Tử.

          Đọc “Luận ngữ”, chúng ta thấy Khổng Tử nói rất nhiều đến “đức”, song đáng chú ý là Khổng Tử quan niệm về “đức” không phải như một cái gì biệt lập mà là trong sự thống nhất chặt chẽ không tách rời với tri thức, tài năng. Quan niệm này thực sự nhất quán từ Khổng Tử đến các môn đệ của ông. Là người hết sức coi trọng đạo đức như vậy đương nhiên, trong hoạt động của mình Khổng Tử bao giờ cũng hành xử theo đúng những chuẩn mực đạo đức mà ông tôn thờ, coi trọng và ra sức tuyên truyền nó trong xã hội, cho dù đời ông như chúng ta biết hết sức long đong, lận đận. Khổng Tử cho rằng: “Người có đức thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết bạn với mình như ở đâu thì có láng giềng ở đó”.

          Điều dễ nhận thấy là tuy Khổng Tử nói nhiều về “đức”, tin vào “đức” và đề cao về “đức” như vậy, nhưng ông cũng nhận thấy rằng, xã hội thời ông đang thiếu “đức” một cách nghiêm trọng. Sống trong một xã hội “vô đạo”, loạn lạc như vậy, một xã hội mà đầy rẫy những cảnh phản loạn, tàn bạo, dâm bôn, đạo đức suy vi, phần nhiều giả dối, nói mà không làm, nhưng Khổng Tử với lòng yêu thương con người thắm thiết, vẫn tin ở con người, tin ở học thuyết của mình có thể cứu vớt cuộc đời. Với ông: “Người ta không thể làm bạn với cầm thú; ta không sống chung với người trong xã hội này thì sống chung với ai? Nếu thiên hạ thịnh trị thì Khâu này cần gì phải đổi nữa?”.

          Quan niệm về đức của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú. Những quan niệm đó thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người. Quan niệm về đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời mà còn có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay. Trong bối cảnh xã hội đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay, rất cần quan tâm tới việc giáo dục đạo đức, xây dựng tính thiện, nói theo thuật ngữ bây giờ là phải chăm lo giáo dục giá trị sống cho lớp trẻ.

3. 2. Chữ Tâm trong tư tưởng Phật giáo.

          Con người sống trên đời quý ở tấm lòng, nơi cái tâm bởi “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (thực chất là đánh giá cao giá trị sống hơn là kỹ năng sống, bởi không có giá trị sống đúng đắn thì con người có thẻ dùng kỹ năng sống để làm điều ác). Trong tu tập thì việc giữ tâm trong sạch lại càng quan trọng hơn vì “ý làm chủ các pháp” hay “nhất thiết duy tâm tạo”. Do vậy, quán sát tâm của mình hiện tại là thiện hoặc ác, tốt hoặc xấu, cao thượng hay thấp hèn… để biết chắc mình sẽ đón nhận một tương lai khổ hoặc vui thích ứng với các loại tâm ấy.

          Theo tuệ giác của Thế Tôn, tâm ta giống như tấm vải và chính ta cũng là người thợ nhuộm, nhuộm cuộc đời mình với nhiều sắc màu chánh tà trong cuộc sống hiện tại. Ai cũng muốn tâm mình như tấm vải trắng để vẽ lên đó những bức tranh với các gam màu như ý nhưng thực tế thì cuộc mưu sinh nghiệt ngã đã ít nhiều làm tâm người hoen ố, dính đầy bụi trần. Khi bừng tỉnh, giác ngộ về lẽ thật của cuộc đời và con người, phát nguyện quay về gột rửa thân tâm, mới thấy tâm mình thực sự là tấm vải dơ, loang lổ màu tham lam, thù hận… và tang thương gần như rách nát.

          Tuy nhiên, dù tấm vải tâm có dơ bẩn đến mấy thì trước đây nó vốn trong sạch và dẫu bị nhuốm bụi trần đậm đặc đến thế nào thì vẫn có thể gột rửa được. Vấn đề là ta có quyết tâm và nỗ lực để tẩy xóa, làm trong sạch tấm vải tâm của mình hay không? Chính sự bền bỉ, chuyên nhất trong việc chuyển hóa tâm theo khuynh hướng thiện sẽ khiến tâm ta trở thành thanh tịnh và trong sạch. Chỉ khi nào tâm chúng ta thanh tịnh như tấm vải sạch thì lúc ấy sẽ chờ đón chúng ta. Ngược lại, nếu không ra sức chuyển hóa để làm trong sạch tâm mình thì chắc chắn trong hiện tại và mai sau không thể như ý mình được vì nhân có quả vốn chẳng tách rời.

          Tu tập chính là tẩy xóa và gột rửa thân tâm. Vì chính tự thân mỗi cá nhân sẽ nhuộm màu cho cuộc đời mình, không ai có thể làm thay cho mình được. Do vậy, thực hành các thiện pháp để tâm trong sạch luôn là tâm nguyện của mỗi người con Phật.

          Tu tập cái tâm chính là tạo dựng cho bản nhân những giá trị sống chân chính. Con người có thể có lúc sai lầm, hành động thiếu suy nghĩ, ích kỉ, nhưng nếu biết tu dưỡng tốt, vẫn có thể “cải tà quy chính’. Đó là tư tưởng nhân văn của Đạo phật, phù hợp với tư tưởng “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên” của Bác Hồ.

3. 3. Khái niệm Đức và Tài trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Hơn 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ rất quan tâm đến tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cách mạng. Người thường nói: “…đạo đức cách mạng là cái gốc, cái nền tảng, cái bản chất. Giống như sông phải có nguồn nước, không có nguồn thì sông khô cạn. Cây phải có gốc rễ, không có gốc thì cây khô héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi cách mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân…”.

          Bác yêu cầu người cách mạng phải lấy Đức làm gốc, tuy nhiên, tư tưởng đạo đức của Người rất coi trọng cả đức và tài. Có tài phải có đức, có tài mà không có đức, tham ô, hủ hóa chỉ có hại cho đất nước. Có đức mà không có tài chẳng làm gì được thì không giúp ích cho ai. Người nêu rõ kiến thiết cần có nhân tài dẫu tại nước ta nhân tài tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dụng thì nhân tài ngày càng phát triển thêm nhiều.

          Ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách thứ hai sau vấn đề nạn đói trong số những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước lúc bấy giờ. Bởi vì nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà thực dân dùng để cai trị chúng ta. Và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vì bận đánh giặc và sản xuất, nhiều người chưa chú ý đúng mức vấn đề văn hóa, giáo dục. Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông thái. Bác luôn đặt biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.

Muốn có nhân tài phải trồng và dĩ nhiên là rất công phu, và giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển con người. Bởi giáo dục tạo nên chất người, nên nhân tài. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh. Đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người còn coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Trong bài “Tìm người tài đức” ngày 20/11/1946, Bác viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. Nghe vì Chính phủ nghe không đến, thấy không gấp đến nổi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”. Nhờ có tấm lòng thật sự trọng dụng nhân tài nên Bác đã tập hợp được đội ngũ trí thức từ nước ngoài về phục vụ sự nghiệp kiến quốc như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Lê Văn Thêm, tướng Nguyễn Sơn, Tạ Quang Bửu… và nhiều chiến sĩ khác gắn bó, đem hết tài năng để xây dựng đất nước, phục vụ kiến quốc.

          Ngày nay, với quan điểm phải giáo dục cho các thế hệ học sinh cả kỹ năng sống (tài) và giá trị sống (đức), chúng ta mới nhận thức rõ ràng hơn mối quan hệ giữa tài và đức, trong đó cái đức được đề cao. Tư tưởng về tài và đức của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, là bài học vô cùng quý giá cho chúng ta noi theo. Đạo đức và tài năng không phải là thứ sản phẩm bẩm sinh hoặc tạo hóa ban cho hoặc chờ đợi người khác mang đến cho mà phải đầu tư học vấn, mở mang tri thức và được trải nghiệm qua quá trình rèn luyện, tu dưỡng của con người.

3. 4. Giáo dục giá trị sống trong mối quan hệ với các tư tưởng giáo dục hiện đại.

          Trở lại khái niệm giá trị sống, chúng ta thấy nó khá gần gũi với những khái niệm “động cơ”, “hứng thú”, “lý tưởng sống” của tâm lý học hiện đại.

- Động cơ là điều kiện bên trong, là cái thúc đẩy con người hành động, định hướng cho những hành vi có mục đích. Động cơ gắn liền với nhu cầu và lợi ích. Lợi ích cũng như nhu cầu của con người rất đa dạng, vì vậy, con người có thể hành động vì những động cơ rất khác nhau. Đơn giản nhất là vì nhu cầu sinh lý như ăn uống, mặc, ở, nhu cầu an toàn. Cao cấp hơn có thể là nhu cầu được khẳng định, được thừa nhận, được thể hiện sự sáng tạo của bản thân. Tương tự như động cơ, giá trị sống của con người cũng đa dạng, nên giáo dục giá trị sống không được cào bằng.

          Một đứa trẻ nghèo đói, chỉ mong được có cơm ăn, áo mặc sẽ không thể giáo dục tinh thần “lá lành đùm lá rách”, nhưng có thể định hướng giáo dục sao cho các em có khát khao chia sẻ với phương châm “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Một người giàu có, muốn dùng tiền để mua cho mình niềm vui. Nếu không có giá trị sống đúng đắn, có thể dùng tiền để chơi game, đánh bạc, tiêu xài xa xỉ, ăn uống lãng phí, thậm chí còn tìm đến với những trò tiêu khiển có hại. Nhưng nếu được giáo dục giá trị sống, để người đó nhận ra rằng “chia sẻ”, mang lại niềm vui cho người khác cũng là một cách tạo niềm vui cho chính mình.

          Trong mọi hoạt động của con người, động cơ là quan trọng nhất, cũng như giá trị sống là nền tảng của kỹ năng sống.

- Giá trị sống cũng liên quan tới hứng thú của con người.

          Các nhà tâm lý học nổi tiếng của Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy cho rằng khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó.

          Tiến sĩ Nguyễn Quang Uẩn trong tâm lý học đại cương đã cho ra đời một khái niệm tương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Khái niệm này vừa nêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân. Xét về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng. Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thoả mãn 2 điều kiện. Một là nó có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân, điều kiện này  quyết định nhận thức trong cấu trúc của hứng thú, đối tượng nào càng có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của cá nhân thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú. Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của mình, nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú. Hai là nó có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân. Trong quá trình hoạt động với đối tượng, hứng thú quan hệ mật thiết với với nhu cầu. Khoái cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tác dụng thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thể hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân. Biện pháp quan trọng nhất, chủ yếu nhất để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt động và bằng hoạt động với đối tượng, mới có thể nâng cao được hứng thú của cá nhân.

          Giá trị sống cũng như hứng thú, được quy định bởi những điều kiện xã hội lịch sử. Giá trị sống của cá nhân được hình thành trong hoạt động và sau khi đã được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động. Vì lý do trên giá trị sống tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng tạo ra hứng thú, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào cái làm cho mình hứng thú, hướng dẫn và điều chỉnh các quá trình tâm lý theo một hướng xác định, do đó tích cực hóa hoạt động của con người theo hướng phù hợp với hứng thú của nó dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao.

- Giá trị sống cũng rất gần gũi với khái niệm lý tưởng sống.

          Lý tưởng sống không phải là một điều gì quá lớn lao mà chúng ta cần phải nỗ lực mới rèn luyện được. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn. Đó cũng chính là những giá trị sống cơ bản mà toàn nhân loại đã thừa nhận, đề cao, trân trọng.

          Để đạt được niềm khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người trên trần gian. Và phải chăng những người bất hạnh chính là những người không lý tưởng, sống không mục đích, và càng không biết mình sẽ đi về đâu?

          Giá trị sống, triết lý sống hay mục đích sống cũng chính là lý tưởng sống của mỗi con người. Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình. Trả lời được câu hỏi này đồng thời bạn cũng xác định được giá trị sống của chính mình.

          Giá trị sống, sứ mạng cuộc đời của chúng ta là gì chính là caua hỏi không ít người khó khăn mới trả lời được. Nhiều người cho rằng đời sống quá bận rộn, làm gì có thì giờ để đặt vấn đề niềm tin hay lý tưởng sống hay giá trị sống . Cũng có người cho rằng cứ sống tự nhiên, đến đâu hay đó, làm gì phải bận tâm đếnớgt hay kỹ năng sống. Những người nói như vậy thật ra là cũng đã có giá trị sống của mình. Giá trị sống đó là “được chăng hay chớ”, không cần suy nghĩ hay phân tích vấn đề.

          Thật ra giá trị sống hay lý tưởng sống là những điều bình dị.

4. Kết luận

          Trong bất cứ cuốn giáo án nào của các thầy giáo, cô giáo, ngay sau tên bài học là phần “Mục đích bài học”. Trong giáo án, các thầy cô đều phân chia rõ ràng mục đích bài học thành ba phần: Kiến thức, kỹ năng và thái độ. Về lý thuyết thì bài bản như vậy, song trong thực tế, suốt một thời gian dài, nhà trường nói chung và các thầy cô nói riêng tập trung chủ yếu vào mục tiêu số một – đó là dạy kiến thức. Chính vì thế, chúng ta đã đào tạo ra những học sinh “nói thì giỏi, làm thì dở”. Một học sinh trả lời làu làu về việc phải làm gì để giúp đỡ người cao tuổi, người tàn tật, được nhận điểm 10 môn Đạo đức, nhưng ra đường vẫn trêu chọc những người khuyết tật, lên xe buýt vẫn ngồi chễm chệ trên ghế, trơ mắt nhìn một cụ già khổ sở, đứng xiêu vẹo trên xe mà không nhường ghế cho cụ. Một học sinh giỏi môn Lý vẫn có thể chẳng biết thay một bóng đèn cháy. Một sinh viên khoa tâm lý có thể có bài viết rất hay về “Kỹ năng giao tiếp”, nhưng đứng trước các thầy cô giáo hay trước đám đông vẫn ấp úng, nói chẳng thành lời. Học sinh của ta đi thi quốc tế thì đạt điểm cao về lý thuyết sách vở, nhưng khi thực hành hay lúc phải giao lưu, trò chuyện với bạn bè năm châu thì tỏ ra lúng túng, nhút nhát, co mình lại, thiếu tự tin. Chúng ta đã kịp giật mình nhận ra rằng đã quên dạy các em kỹ năng sống, kỹ năng thực tế.

          Những năm gần đây ngành giáo dục đã quan tâm tới dạy kỹ năng sống cho học sinh. Một trong những tiêu chí của “Nhà trường thân thiện” là có đưa chương trình dạy kỹ năng sống vào trường học. Khắp nơi mọc lên các trung tâm dạy kỹ năng sống, kỹ năng mềm, thu hút không chỉ học sinh, sinh viên, mà cả nhiều người lớn tham gia.

          Nhưng hai học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt, có khả năng thuyết phục người khác hiệu quả, khéo léo trong việc đoán biết tâm lý người khác, nhưng hai người đó dùng những kiến thức, kỹ năng mình học được vào hai việc khác nhau. Một người tham gia chiến dịch vận động hiến máu nhân đạo, người thứ hai đi lừa đảo. Hai sinh viên luật giỏi như nhau, nhưng một sinh viên trở thành luật sư giỏi, một người trở thành kẻ phạm pháp vì biết cách “lách luật”. Kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm có thể phục vụ đắc lực cho công việc của cơ quan, của công ty, nhưng cũng có thể dùng vào việc “lôi kéo bè cánh”, tạo ra những nhóm chống đối, hợp sức để phá hoại.

          Như vậy, cứ tưởng có kiến thức phong phú, kỹ năng sống hoàn hảo là mọi vấn đề đã trở nên tốt đẹp, hoá ra vẫn còn thiếu. Chính giáo dục giá trị sống mới là nền tảng cốt lõi cho việc triển khai các chương trình giáo dục kỹ năng sống. Nếu không giáo dục giá trị sống tốt đẹp, chỉ chú trọng cung cấp kiến thức, đào tạo kỹ năng thì khác nào dạy kẻ giết người tập bắn, hậu quả xảy ra cho mỗi cá nhân, gia đình cũng như cộng đồng sẽ vô cùng nặng nề.

                                                                   Hà Nội, ngày 23/6/2009

                                                                   Đinh Đoàn: 0913.352.548

Tài liệu tham khảo.

1. www.giatricuocsong. org

2. www.livingvalues.net

3. www.chungta.com

4. www.giacngo.vn

5. http://encyclopedia. WordPress.com/life-gia-tri-sống

6. www.humg.edu.vn/lyluanchinhtri

Thứ Ba , Tháng Hai 23, 2010 02:18
Tháng 8
01

Đinh Đoàn kể chuyện: Hai chị em 03:24Chiều

Hai người phụ nữ ấy, một già và xấu, một trẻ và xinh, lao vào cấu xé nhau trước sự chứng kiến của “ông đi qua,...

Tháng 7
11

Giáo dục kỹ năng sống: Ngay và luôn… 10:57Sáng

Hôm nay đọc báo thấy có em thí sinh đi thi đại học quên máy tính (máy tính cầm tay, để cộng, trừ, nhân, chia, không phải...

Tháng 7
07

Tâm lý học đám đông: Hiện tượng a dua theo phong trào… 12:55Chiều

Một đám đông các bạn trẻ chen lấn xô đẩy để được ăn một món ăn miễn phí, túm lại “đánh hội đồng” một nạn...

Tháng 7
07

Giáo dục: Trừng phạt có nên người? 10:30Sáng

Khi bạn gõ mấy tiếng “trừng phạt thân thể trẻ em” vào công cụ tìm kiếm trên trang www.google.com.vn, chỉ 0,35 giây, bạn...

Jan
01

Một số trò chơi tập thể 12:00AM

Các bạn thân mến! Trò chơi không thể thiếu trong các hoạt động tập thể, sinh hoạt Đoàn - Đội và trong các giờ dạy kỹ năng sống. Xin gợi ý với các bạn ...

Jan
01

Chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 12:00AM

Hiện nay Công ty TNHH Tư vấn tâm lý, đào tạo phát triển cá nhân và cộng đồng ( PSYCONSUL CO., LTD) đang triển khai dạy kỹ năng sống cho một số trường ...

Jan
01

Tâm lý học: Bản chất tâm lý người 12:00AM

Bản chất hiện tượng tâm lý: Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lý người + Quan niệm duy tâm cho rằng tâm lý của con người là do ...

Jan
01

Tâm lý học: Cảm xúc và tình cảm 12:00AM

A. Tình cảm 1. Khái niệm về tình cảm 1.1) Tình cảm là gì Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật và hiện tượng ...

Jan
01

TLH: Các quy luật của tình cảm 12:00AM

Người ta bảo: “Sông sâu còn có kẻ dò/ Lòng người ai dễ mà đo cho tường”, nghĩa là khẳng định “Lòng người” là cái thực sự khó nắm bắt, khó kiểm soát, k...

  • Chuyên viên Duy Bình

    songhongxanh@yahoo.com

  • Tâm Giao

    tamgiaotrochuyen@yahoo.com.vn

  • Chuyên gia

    chuyenkhonoi_tv@yahoo.com

  • Đinh Đoàn

    dinhdoan_tvtc@yahoo.com

  • Đinh Thuỷ

    dinhthuy_tuvantamly62@yahoo.com