Đinh Đoàn: Xâm hại trẻ em – Góc nhìn toàn diện

Vấn đề phòng, chống xâm hại trẻ em đã và đang trở thành vấn đề xã hội nóng bỏng trong những năm gần đây. Chính vì thế, trong ngày họp 3/6/2020, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam xin ý kiến các đại biểu và kết quả có 79,13% số ĐBQH biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thống nhất thực hiện giám sát tối cao về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em vào năm 2020. Tuy nhiên, về vấn đề xâm hại trẻ em cần được nhìn từ nhiều góc độ và toàn diện hơn.

          Trong thực tế ngoài xã hội, thời gian gần đây, đâu đâu cũng “dấy lên phong trào” phòng chống xâm hại trẻ em, từ mỗi gia đình, các trường học, đến các trung tâm đào tạo kỹ năng, trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, đến chương trình làm việc của Quốc hội, các tổ chức đoàn thể… Ít nhiều, đây cũng là điều đáng mừng vì vấn đề của “trẻ con” mà thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, về vấn đề này, chúng tôi có một vài ý kiến sâu, rộng hơn:

Trước hết, về thực trạng: Chỉ từ năm 2015 đến ngày 30/6/2019, toàn quốc đã phát hiện 8.091 trẻ em bị xâm hại (chưa kể số trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị bóc lột thông qua lao động trẻ em). Trong đó có 6.432/8.091 trẻ em bị xâm hại tình dục, chiếm 79,4% trên tổng số trẻ em bị xâm hại. Như vậy, cứ mỗi ngày có hơn 17 trẻ em bị xâm hại tình dục. Một thống kê khác cho thấy chỉ từ năm 2018 đến hết quý I – 2019 đã có 3.499 vụ xâm hại trẻ em, và 60% số này là xâm hại tình dục. Đáng báo động hơn, có tới 21,3% trẻ em bị xâm hại tình dục là do các người thân trong gia đình.

Xin nói rằng số liệu thống kê nêu trên chỉ là bề nổi rất nhỏ của một tảng băng chìm. Nhiều vụ trẻ em bị xâm hại, nhưng trẻ em cũng như người lớn xung quanh em không nhận ra đây là hình thức xâm hại. Nhiều vụ xâm hại được bỏ qua, được giải quyết nội bộ và không báo cáo. Đặc biệt có nơi “ngại” báo cáo số liệu thật, nên khi thống kê, báo cáo, có “giảm đi một chút”. Vì thế, hãy tin rằng rất nhiều trẻ em bị xâm hại mà chúng ta chưa biết, chưa tiếp cận và chưa hỗ trợ được.

Thứ hai, rất nhiều người còn hiểu xâm hại trẻ em chỉ là “xâm hại tình dục”, nên tập trung giáo dục, dạy dỗ các em kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục, mà bỏ quên những hình thức xâm hại khác. Điều 4, Luật trẻ em năm 2016 ghi rõ:  Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác. Bạo lực trẻ em, bạo lực học đường, bạo lực gia đình là những hình thức bạo lực khá phổ biến, liên quan tới trẻ em, nhưng khi đề cập đến “xâm hại trẻ em” lại không được chú ý nhiều. Đừng quên, nhiều trẻ em (dưới 16 tuổi) phải bỏ học, bị ép buộc đi làm, tự kiếm tiền, hoặc bị bóc lột sức lao động cũng là “xâm hại trẻ em”. Tình trạng cha mẹ, người thân bỏ rơi, bỏ mặc, không quan tâm tới trẻ, nhất là trong những gia đình mà bố mẹ đều trẻ, cả hai còn bận rộn đi làm, gửi con cho ông bà hoặc để trẻ ở nhà tự trông coi nhau… còn khá phổ biến. Tình trạng mua bán trẻ em, tuy không nhiều, nhưng cũng không thể bỏ qua khi nói đến những biện pháp ngăn ngừa, đẩy lùi xâm hại trẻ em.

Thứ ba, về các biện pháp phòng, chống xâm hại trẻ em, không thể đổ hết trách nhiệm lên vai Nhà trường hay gia đình. Có hàng trăm nguyên nhân dẫn tới tình trạng trẻ em bị xâm hại, kể cả từ phía người lớn, từ khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, phá luật, đặc biệt là dân trí. Như vậy, cũng cần có cả trăm biện pháp khác nhau, chứ không phải chỉ tập trung vào việc đưa chương trình giáo dục phòng chống xâm hại trẻ em vào nhà trường, yêu cầu các thầy cô giáo dạy cho học sinh mà đã có hiệu quả. Khi mà người lớn vẫn cho rằng “trẻ hư thì đánh cho nó nhớ, nó chừa, lần sau nó không dám làm thế nữa, có gì đâu mà ầm ĩ lên”, khi mà thấy một em bé gái bị một người hàng xóm xâm hại tình dục, người lớn lại quy kết tội cho bé rằng “ông ấy ở một mình, sang đấy chơi làm gì để ông ấy hứng lên, ông ấy gạ gẫm”, khi mà người lớn nghĩ rằng “học làm gì nhiều, lớn rồi, phải đi kiếm tiền giúp cha mẹ chứ”… thì các em học sinh có được học cả chục khóa về kỹ năng tự vệ, kỹ năng phòng tránh xâm hại cũng không có hiệu quả gì.

Bốn là, trong các chương trình dạy trẻ em kỹ năng tự bảo vệ mình, phòng chống xâm hại trẻ em, đặc biệt là xâm hại tình dục, người ta tập trung dạy trẻ tránh xa người lạ, biết kêu cứu, bỏ chạy, chống trả… khi bị xâm hại. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu, khảo sát và trên thực tế, trên 80% đối tượng xâm hại trẻ em là người thân, người quen, người ruột thịt, người có uy tín, có quyền lực với trẻ (ví dụ: anh chị em, bố đẻ, ông nội ngoại, thầy giáo, cán bộ y tế đang chăm sóc trẻ, anh họ, bác hàng xóm…). Nhận diện, đề phòng, né tránh, thoát hiểm, tố cáo… những đối tượng này mới là “vấn đề cực khó”, lại ít được dạy. Như vậy là có dạy mà chưa đủ.

Năm là, quan niệm về xâm hại trẻ em, nhất là về hậu quả của nó còn nhiều điều chưa đầy đủ. Người ta chỉ cho là “hậu quả nghiêm trọng” khi trẻ bị thương tích trên thân thể, bị chảy máu, đau đớn, bị có thai ngoài ý muốn… còn những hậu “quả chìm” như tổn thương về tâm lý, tinh thần (sợ hãi, lo lắng, mặc cảm, tự ti, nhút nhát, ám ảnh…), bị coi nhẹ. Nhiều vụ xâm hại trẻ em bị bỏ qua khi người lớn, kể cả người thân thấy “nó chưa để lại hậu quả lớn”, để lọt lưới tội phạm.

Sáu là, đừng quên mọi trẻ em đều có thể là nạn nhân của xâm hại trẻ em, kể cả xâm hại tình dục. Tất nhiên, về hình thức xâm hại, thì trẻ em trai ít trở thành nạn nhân của xâm hại tình dục hơn trẻ em gái, nhưng ít không có nghĩa là không có.

Bẩy là, khi dạy trẻ tự bảo vệ bản thân, người lớn, nhất là các thầy cô dạy kỹ năng sống, thường dạy trẻ cách kêu cứu, bỏ chạy, chống trả, mà quên dạy trẻ phải khôn khéo để bảo đảm an toàn về thân thể, tính mạng. Nhiều vụ xâm hại, nạn nhân bị tử vong do kêu la lớn, khiến thủ phạm sợ hãi, bịt miệng, bóp cổ để khống chế. Nhiều trường hợp bỏ chạy, chống trả đã bị thủ phạm hành hung tàn độc. Đôi khi bình tĩnh, tự tin, khéo léo thỏa hiệp, giả vờ “ngoan ngoãn nghe theo”, chấp nhận một số thiệt thòi, tổn thương nhỏ để bảo toàn tính mạng mới là khôn ngoan.

Tám là, nhiều người nghĩ rằng phải có thêm nhiều bộ luật, luật, quy định … nhưng thật ra chúng ta có đủ Luật để bảo vệ trẻ em. Vấn đề cơ bản là nâng cao nhận thức cộng đồng, nâng cao năng lực tự bảo vệ cho trẻ em và thực thi pháp luật nghiêm minh mà thôi.

Cuối cùng, chúng ta không có đủ đội ngũ các cán bộ chính quyền, công an, các cán bộ đoàn thể như Đoàn TN, Hội phụ nữ, Hội nông dân, các trưởng thôn để lúc nào cũng “túc trực” làm công tác bảo vệ trẻ em. Chính vì thế, các cộng tác viên (CTV) bảo vệ trẻ em ở cộng đồng là những chân rết, đầu mối, là “tai mắt” của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Hiện nay chúng ta có đội ngũ khá đông đảo, song chất lượng đội ngũ còn hạn chế. Hàng năm, hàng quý, ngành LĐTBXH nên tổ chức các buổi tập huấn, hội nghị, hội thảo… nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ này, mới hy vọng chất lượng chăm sóc, bảo vệ trẻ em được cải thiện rõ nét trong thời gian tới.

Đinh Đoàn